Việt Nam – đất nước của 54 dân tộc anh em

XUÂN HOÀNG sưu tầm và biên soạn

(Haimat.vn) - Việt Nam, đất nước của 54 dân tộc cùng chung sống. Theo truyền thuyết, các dân tộc Việt Nam dù ở trên rừng hay dưới biển đều là con cháu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang gây dựng non sông đất nước.

Đất nước Việt Nam có thế "tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dải từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).

 

Nhà rông của người Xê đăng

 

Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.

Người Bố y trong điệu nhảy truyền thống. Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, Pu Nà. Dân số: 2.059 người (ước tính năm 2003). Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm. Cư trú: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang
 

 

Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mảnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu...) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.

Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hóa xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre xanh gai góc đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu dân ca quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chan chứa sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long.

 

 Dân tộc B'râu. Theo số liệu của Cục Thống kê Gia Lai, Kon Tum, năm 1981 dân tộc Brâu chỉ có 282 người cư trú tại làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum - sát biên giới giáp Lào. Sau gần 25 năm, dân tộc này chỉ tăng thêm 106 người - 92 hộ, 398 khẩu. Họ vẫn ở Đăk Mế, trên rẻo cao của cực bắc Tây Nguyên xa xôi.

 

Ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế...), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc. Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.

Trong một lớp học người Chăm. Dân tộc Chăm còn có tên gọi khác là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hroi… Tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận.Ngoài ra ở một số nơi như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm. Dân số: 148.021 người (ước tính năm 2003).
 

Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên ở thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong mùa hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơ mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hòa về màu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo dốc. Núi rừng hoang sơ cùng với phương thức canh tác lạc hậu là mảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghi đầy tính thần bí, huyền ảo.

Thiếu nữ Chơ ro. Người Châu Ro (hay Chơ Ro, Đơ-Ro) dân số 15.000 người, cư trú đông ở Đồng Nai, một số ở các tỉnh Bình Dương và Bình Phước, Bình Thuận.

 

Hầu hết các cư dân Tây Nguyên đều có tục đâm trâu làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ của Giàng cho người sức khỏe, cho gia súc và cho mùa màng bội thu. Đây cũng là vùng tiềm ẩn nhiều truyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng. Đồng bào là chủ nhân sáng tạo ra những bộ đàn đá, đàn T'rưng, đàn Krông pút... những bộ cồng chiêng và những điệu múa tập thể dân dã, khỏe khoắn kết bó cộng đồng.

Người Chu ru ( thượng). Dân tộc Chu ru có tên gọi khác: Cho Ru, Kru, Thượng. Phần lớn ở Ðơn Dương (Lâm Ðồng), số ít ở Bình Thuận. Tên gọi khác: Cho Ru, Kru, Thượng. Ngôn ngữ: thuộc nhóm Nam đảo. Dân số: 16.972 người (ước tính năm 2003). Ðịa bàn cư trú: Phần lớn ở Ðơn Dương (Lâm Ðồng), số ít ở Bình Thuận
 

Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống bằng nghề cài lưới. Cứ sáng sáng đoàn thuyền của ngư dân giăng buồm ra khơi, chiều lại quay về lộng. Cuộc sống ở đây cũng nhộn nhịp, khẩn trương như nông dân trên đồng ruộng ngày mùa.

Trẻ em người Chút (rục)

 

Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hóa trong khu vực, ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á, ngữ hệ Nam đảo và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau.

Dân tộc Cơ ho. Dân tộc Cơ ho còn có tên khác là Xrê, Nộp, Cơ lon, Chil, Lát, T’ring. Ðịa bàn cư trú là ở Cao nguyên Di Linh.

Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ.

Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

Nhóm Môn-Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.

Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn.

Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La chí, La ha, Pu péo.

Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai.

Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu.

Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà Nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.

Dân tộc Cờ lao. Dân tộc Cơ Lao có tên gọi khác là Ke Lao, Cờ Lao. Tập trung ở huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì (tỉnh Hà Giang). Dân số: 2.034 người (ước tính năm 2003). Đặc điểm kinh tế: Ở Đồng Văn, người Cờ Lao làm nương, gieo trồng ngô ở hốc núi đá. Ở Hoàng Su Phì, đồng bào làm ruộng nước, trồng lúa là chính. Nghề thủ công phổ biến của đồng bào là đan lát và làm đồ gỗ, sản phẩm là phên, cót, nong, bồ, bàn ghế, yên ngựa v.v... 

 

Chúng ta hãy cùng ngắm các dân tộc anh em Việt Nam trong trang phục truyền thống, cuộc sống đời thường – để càng thêm tự hào, yêu thương nước Việt.
 

Già làng người Cơ tu. Người Cơ Tu cư trú lâu đời ở miền núi tây bắc tỉnh Quảng Nam, tây nam tỉnh Thừa Thiên Huế, liền khoảnh với địa bàn phân bố tộc Cơ Tu bên Lào. Họ thuộc số cư dân cư trú lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Tên gọi khác: Ca Tu, Ka Tu. Dân số: 36.967 người.
 

 

Đôi vợ chồng dân tộc Co. Dân tộc Co (hay Cor, Col, Cùa, Trầu) có dân số 22.600 người, sống tập trung ở huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam và huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.

 

Người Cống. Người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang. Nguồn sống chính là làm nương, đang chuyển sang làm nương cuốc, ruộng. Tên tự gọi: Xắm khôống, Phuy A. Dân số: 1.261 người. 

 

 

 

Phụ nữ Dao. Dân tộc Dao (hay "người Đông", "người Trại", "người Dìu Miền", "người Kim Miền") có dân số hơn 470.000 người, cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh Trung du, ven biển Bắc bộ Việt Nam.

 

Người Dao đầu bằng

 

Thiếu nữ Dao đỏ trong một phiên chợ

 

Thiếu nữ Dao Khâu

 

Dân tộc Ê đê. Dân tộc Ê đê có tên gọi khác: Anăk Ê Đê, Ra Đê, Ê Đê - Êgar, Đê. Tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên. Dân số: 306.333 người (ước tính năm 2003).
 

Trong buôn làng của người Gia glai. Tên gọi khác: Ra Glây, Hai, Noana, La Vang. Người Ra Glai sống thành từng pa-lây (làng) trên khu đất cao, bằng phẳng và gần nguồn nước. Tên gọi khác: Ra Glây, Hai, Noana, La Vang.  Dân số: 70.000 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Sống chủ yếu ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận
 

Thiếu nữ Gia Rai và công việc hàng ngày. Người Gia Rai (còn gọi là người Giơ Rai, Chơ Rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor hay Gia Lai), dân số khoảng 317.557 người, sinh sống tập trung ở tỉnh Gia Lai, một số ở tỉnh Kon Tum và phía bắc tỉnh Đăk Lăk.

 

Dân tộc Giáy. Người Giáy còn có tên gọi khác: Nhắng, Giảng, Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Xạ. Dân số: 54.002 người (ước tính năm 2003). Cư trú: chủ yếu ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu và Cao Bằng
 

 Người Giẻ triêng. Tên gọi khác là Gié, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang. Cư trú ở tỉnh Kon Tum và miền núi tỉnh Quảng Nam - Đà NẵngNhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer. Dân số: 31.343 người (ước tính năm 2003)
 

Dân tộc H'mông. Người H’Mông (còn gọi là người Hmông, người Mông, người Hơ-mông, người Mèo), dân số hơn 800.000 người, thường cư trú ở độ cao 800-1.500m so với mực nước biển, gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La,...

 

Thiếu nữ Hà Nhì. Dân tộc Hà Nhì tên tự gọi là Hà Nhi gia. Tên gọi khác là U Ní, Xá U Ní,Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen. Dân số: 19.954 người (ước tính năm 2003). Cư trú: ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai 

 

Thiếu nữ Hre. Dân tộc H"rê (còn gọi là Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy), hiện có khoảng 95.000 người, sinh sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi, và Bình Định.

 

Người Kháng. Dân tộc Kháng còn có tên gọi khác là Háng, Xá, Brển. Người Kháng là một trong số các dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta.Tên tự gọi: Mơ Kháng.Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi... Dân số: 3.921 người. Cô gái Kháng. Cư trú: Sơn La và Lai Châu  

 

Dân tộc Khơ mú. Dân tộc Khơ mú có tên gọi khác là Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh, Tày HạyXá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh. Cư trú : tập trung ở các tỉnh Nghệ An, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Yên Bái. Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ. Dân số: 62.721 người (ước tính năm 2003)
 

Phụ nữ La ha. Dân tộc La Ha hiện có 2000 người cư trú ở miền núi thuộc miền hữu ngạn sông Hồng (tỉnh Hoàng Liên Sơn) và miền lưu vực sông Đà (tỉnh Sơn La). Do sống xen kẽ lâu đời, trong các bản La Ha hiện nay đều có người Kháng , Thái và các dân tộc khác. Dân tộc La Ha chia thành hai ngành : La Ha Ủng (La Ha ở nước) và Khla Phlao hay La Ha Phlao (người LA Ha ở cạn).

 

 

 Dân tộc La hủ. Người La Hủ có các tên gọi khác: Xá Lá vàng, Cò Xung, Khùng Sung, Khả Quy,... Hiện nay dân tộc La Hủ có khoảng 7.561 người.

 

Thiếu nữ dân tộc Lào. Dân tộc Lào còn có tên gọi khác là Lào Bốc, Lào Nọi. Tập trung tại các huyện Điện Biên, Phong Thổ (Lai Châu), Sông Mã (Sơn La), Than Uyên (Lào Cai). Dân số: 9.600 người
 

Người Lô lô. Tên gọi khác: Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn. Có hai nhóm: Lô Lô hoa và Lô Lô đen. Dân số: 3.134 người. Sống chủ yếu ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Bảo Lạc (Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai)
 

Đôi vợ chồng người Lự. Dân tộc Lự (còn gọi là Lữ, Nhuồn, Duồn), dân số hiện nay khoảng 3.700 người, sống tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

 

 

 

Chành thanh niên người Mạ. Dân tộc Mạ (hay Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) có số dân khoảng 26.000 người, cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, Đồng Nai.

 

Người Mông bên chảo thắng cố - một món ăn truyền thống từ thịt ngựa

 

Thiếu nữ Mảng. Dân tộc Mảng còn có tên gọi khác là Mảng Ư, Xá lá vàng. Ðịa bàn cư trú ở Tỉnh Lai Châu (Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ, Mường Lay). Dân số: Trên 2.200 người
 

Lễ hội của người Mnông. Dân tộc Mnông còn có tên gọi khác là Bu-dâng, Preh, Ger, Nong, Prâng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu Nor, nhóm Mnông Bu-dâng. Dân số: 67.300 người (ước tính năm 2003). Tập trung ở phía nam tỉnh Đắc Lắc, một phần tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương
 

Cô gái Mường. Người Mường (còn gọi là người Mol, Mual, Moi, Moi bi, Au tá, Ao tá), dân số hiện nay 914.600 người, sống ở khu vực miền núi phía Bắc, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa. Theo một số nhà dân tộc học, có giả thuyết rằng người Mường về mặt sắc tộc chính là người Kinh cư trú ở miền núi.

 

Những cô gái Ngái. Dân tộc Ngái có tự gọi là Sán Ngải. Cư trú ở Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, TP.Hồ Chí Minh. Tên gọi khác: Ngái Hắc Cá, Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đàn, Lê. Tên tự gọi chung là Sán Ngái (người miền núi), Xuyến. Dân số: 1.154 người (ước tính năm 2003)
 

Dân tộc Nùng. Dân số trên 55.000, người Nùng cư trú ở các tỉnh Cao Lạng, Bắc Thái, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Hà Bắc, Quảng Ninh.

 

Một gia đình người Ơ đu. Dân tộc Ơ đu tập trung ở hai bản Kim Hòa, Xốp Pột (xã Kim Đa) và một số cư trú lẻ tẻ ở các bản các xã kế cận, thuộc huyện Tương Dương. Tên gọi khác: Tày Hạt. Dân số: gần 100 người (ước tính năm 2003). Người Ơ Đu sinh sống bằng nương rẫy, lúa là nguồn lương thực chính; ngô, sắn, kê là lương thực phụ. Hái lượm và săn bắn vẫn quan trọng trong đời sống kinh tế của họ. Đồng bào nuôi bò với số lượng không đáng kể nhằm lấy sức kéo. Gà, lợn nuôi thường để sử dụng vào mục đích nghi lễ, cúng bái và cải thiện bữa ăn, nhất là dịp có khách. 

 

Cô gái Pà Thẻn rạng rỡ. Dân tộc Pà thẻn còn có tên gọi khác: Pá Hưng, Tống. Người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Lúa, ngô là cây lương thực chính. Tên gọi khác: Pá Hưng, Tống. Dân số: 3.700 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Tập trung ở một số xã của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang 

 

Hai mẹ con dân tộc Phù lá. Dân tộc Phù lá còn có tên gọi khác là: Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Mú Dí Pạ, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang , Cần Thin. Nhóm địa phương: Phù Lá Lão, Bồ Khô Pạ, Phù Lá Ðen, Phù Lá Hán. Dân số: 6.500 người (ước tính năm 2003). Đời sống kinh tế của dân tộc Phù Lá dựa vào việc làm nương và ruộng bậc thang. Chăn nuôi gồm có trâu để kéo cày, ngựa để thồ, gà, lợn để lấy thịt. Nghề thủ công nổi tiếng của đồng bào là đan mây, tre làm gùi và các dụng cụ để chứa đựng... với nhiều hoa văn đẹp. Những sản phẩm này, đồng bào còn mang bán hoặc đổi hàng, được nhiều dân tộc khác ưa dùng. Người Phù Lá sống tập trung ở các tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu. Làng xóm thường cách xa nương. Cư dân nhóm Phù Lá Lão thường ở phân tán thành những chòm xóm với quy mô nhỏ.

Người Pu péo và lễ cúng Giàng (trời). Dân tộc Pu Péo (còn gọi là Ka Beo, Pan ti Lô Lô) có gần 700 người, sống tập trung vùng biên giới Việt -Trung, thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang.

 

Dân tộc Rơ măn. Dân tộc Rơ măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer. Sống ở làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Dân số: chưa đến 300 người. Người Rơ Măm sinh sống bằng nghề làm rẫy, lúa nếp là lương thực chủ yếu. Khi gieo trồng, đàn ông cầm hai gậy nhọn chọc lỗ, đàn bà theo sau bỏ hạt giống và lấp đất, săn bắt và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Trong số các nghề phụ gia đình, nghề dệt vải phát triển nhất nhưng ngày nay đã suy giảm vì đồng bào đã quen dùng các loại vải công nghiệp bán trên thị trường

Cô gái Sán chay. Hiện nay trang phục của người Sán Chay thường giống người Kinh hoặc người Tày. Tên gọi khác: Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận, Chùng, Trại...Tên tự gọi: Sán Chay. Dân số: 114.012 người. Sống tập trung ở Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang và rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc 

 

Các cô gái Sán dìu trong một tiết mục văn nghệ. Dân tộc Sán Dìu (hay Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc), thuộc nhóm ngôn ngữ Hoa, dân số hiện nay khoảng 95.000 người, sinh sống ở miền trung du của một số tỉnh vùng đông bắc Việt Nam.

 

Người Si la. Người Si La sống bằng nghề trồng lúa nương, ngô. Từ mấy chục năm nay đồng bào làm thêm ruộng nước.
Tên gọi khác: Cú Dé Xử, Khà Pé. Dân số: 600 người (ước tính năm 2003). Sống ở ba bản Seo Hay, Sì Thâu Chải, Nậm Xin thuộc huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu
 

 

Dân tộc Tà ôi (Pa cô). Dân tộc Tà Ôi (còn gọi là Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi hay Pa Hi), có số dân khoảng 26.000 người, sống tập trung ở các huyện A Lưới - tỉnh Thừa Thiên Huế, và hai huyện Hướng Hóa, DaKrong thuộc tỉnh Quảng Trị.

 

Thiếu nữ Tày. Dân tộc Tày (còn gọi là Thổ) có số dân khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta, cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh và một số vùng thuộc Bắc Giang.

 

Bà lão người Thái đen. Người Thái (còn là Tày Khao - Thái trắng, Tày Đăm - Thái đen, Tày Mười, Tày Thanh - Man Thanh, Hàng Tổng - Tày Mường, Pu Thay, Thổ Đà Bắc), dân số hiện nay khoảng 1.000.000 người, cư trú tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.

 

Cô gái Thái trắng đang dệt thổ cẩm

 

Thiếu nữ Vân kiều giã gạo. Dân tộc Bru-Vân Kiều còn có tên gọi khác là Bru, Vân Kiều, Mang Cong, Trì, Khùa. Cư trú tập trung ở miền núi các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. Dân số: 62.954 người (ước tính năm 2003). Người Bru-Vân Kiều sống chủ yếu nhờ làm rẫy và làm ruộng. Việc hái lượm săn bắn và đánh cá là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng. Đồng bào nuôi gia súc, gia cầm, trước hết cho các lễ cúng, rồi sau đó mới là cải thiện bữa ăn. Nghề thủ công có đan chiếu lá, gùi... 

 

Người Xê đăng. Dân tộc Xê đăng có tên gọi khác là Xơ Đeng, Cà Dong, Tơ-dra, Hđang, Mơ-nâm, Hà Lăng, Ka Râng, Bri La Teng, Con Lan. Dân số: 97.000 người. Cư trú: Cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
 

Dân tộc Xinh mum. Dân tộc Xinh mun còn có tên gọi khác là Puộc, Pụa. Cư trú ở vùng biên giới Việt - Lào thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu. Dân số: 10.000 người
 

Dũng khí Xtiêng. Người Xtiêng (còn gọi là người Xa Điêng), dân số khoảng 66.788 người, cư trú tập trung tại một số huyện thuộc các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Tây Ninh.

 

Bà lão người Hoa. Dân tộc Hoa có tên gọi khác là Khách, Hán, Tàu. Sinh sống ở nhiều nơi từ Bắc đến Nam, ở cả nông thôn và thành thị. Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ... Dân số: 913.248 người (ước tính năm 2003). Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính, ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán... Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (thành phố Hồ Chí Minh)... Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ "tín".  

 

Người Kinh chiếm số đông - cô gái Miền Tây

 

Tháp Chăm ở Ninh Thuận

 

Nhà sàn của người Chơ ro

 

 

Nhà của người Cờ lao

 

Nhà dài của người Ê đê

 

Nhà sàn của người Dao

 

Nhà của người Mường

 

 

 

Dân số: 145.857 người (ước tính năm 2003).