UBND tỉnh Bến Tre giải quyết chia thừa kế không đúng thẩm quyền, làm khổ người dân

(Haimat.vn) – Theo qui định của pháp luật, các tranh chấp về đất đai nếu đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì do UBND huyện giải quyết. Nếu trên đất đó tài sản hoặc thuộc dạng tranh chấp về di sản thừa kế thì phải do Tòa án giải quyết.

Một vụ tranh chấp đất đai tại huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre liên quan đến vấn đề thừa kế đất đai và tài sản trên đất lại được UBND tỉnh “ôm” giải quyết. Quá trình giải quyết lại có nhiều mâu thuẫn, bất nhất trước sau. Dẫn đến kết quả là dù đã giải quyết xong (đã có quyết định “cuối cùng”) nhưng vẫn không thể thực hiện – vì nếu thực hiện đúng thì sẽ dẫn đến trái pháp luật (hủy hoại tài sản hợp pháp của người có liên quan).

Dù đương sự đã nhiều lần gửi đơn khiếu nại đề nghị được giải quyết đúng luật nhưng UBND tỉnh Bến Tre vẫn không trả lời.

Xét về mặt pháp lý, đây là một vụ việc có tính chất điển hình trong giải quyết tranh chấp đất đai. Nên chúng tôi quyết định đăng lại Đơn khiếu nại của đương sự - để mọi người có thể hiểu biết thêm về những qui định của pháp luật liên quan đến vấn đề này. (Lưu ý là chúng tôi không phán xét bên nào đúng hay sai)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bến Tre, ngày 9-9-2011

ĐƠN KHIẾU NẠI (lần 4)
( V/v: UBND huyện Ba Tri và UBND tỉnh Bến Tre giải quyết khiếu nại
không đúng thẩm quyền & trái pháp luật, gây thiệt hại cho người dân)

Kính gửi: ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
              HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
              THANH TRA CHÍNH PHỦ
              THANH TRA TỈNH BẾN TRE

Vợ chồng chúng tôi là : TRẦN VĂN GA – DƯƠNG THỊ LỆ

Địa chỉ: ấp Tân Thanh 1, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Điện thoại: (075) xxx

Nay làm đơn này (lần thứ 4) khiếu nại 2 việc sau :

1. UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định 1649/QĐ-UBND ngày 20-7-2009, giải quyết khiếu nại không đúng thẩm quyền, sai trình tự thủ tục, không triệu tập người liên quan, dựa trên nội dung không đúng sự thật, áp dụng pháp luật không đúng - làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình chúng tôi.

2. UBND huyện Ba Tri đã ban hành Quyết định 149/QĐ-UBND ngày 23-1-2008 về việc giải quyết tranh chấp đất đai dựa trên nội dung không đúng sự thật, quá trình giải quyết không triệu tập người liên quan, áp dụng pháp luật không đúng, nội dung quyết định trái luật - làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình chúng tôi.

Vào các ngày 22-3-2011, 28-4-2011, 15-6-2011 vừa qua chúng tôi đã 3 lần có đơn khiếu nại gứi tới Quí cơ quan, nhưng tới nay vẫn là sự im lặng đáng sợ từ nơi có thẩm quyền là UBND tỉnh Bến Tre.

Cụ thể như sau:

I. Từ việc gia đình tôi sử dụng đất có nguồn gốc và quá trình sử dụng rõ ràng (từ năm 1908), có kê khai và đóng thuế đầy đủ tính đến ngày 10-5-1994:

Nguyên từ những năm 1908, gia đình ông bà, sau đó là cha mẹ chúng tôi (là ông bà Trần Hữu Cứ (chết 1998) - Đỗ Thị Tánh (chết 1992)) - đã sinh sống trên khu đất do tổ tiên để lại. Khu đất này nay thuộc Tờ bản đồ số 24 - tọa lạc tại ấp Tân Thuận, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tôi (Trần Văn Ga) đã ở với cha mẹ ngay từ khi mới sinh ra cho đến nay ngay trên khu đất này.

(Theo tài liệu xưa và duy nhất nhất do ông bà để lại qua nhiều đời do chúng tôi đang giữ bản chính, thì nguồn gốc đất là do ông sơ tên Đỗ Hữu Được mua của bà Đỗ Thị Út. Năm 1908, ông Đỗ Hữu Được có làm tờ “Tương quân” chia cho 4 người con là Đỗ Thị Lý, Đỗ Kim Thinh (cháu nội), Đỗ Thị Dựa và Đỗ Hữu Quới. Tuy nhiên, đây chỉ là tài liệu tham khảo, thực tế chỉ có 2 người là Đỗ Thị Dựa và Đỗ Hữu Quới có nhận đất và sử dụng).

Theo thỏa thuận lâu đời trong họ tộc, gia đình tôi coi quản và sử dụng những phần đất còn trống trong khu đất của ông bà để lại và có trách nhiệm thờ tự tổ tiên. Theo đó, từ khi sử dụng đất (năm 1908) - ông nội tôi là ông Đỗ Hữu Lộc (con ông Đỗ Hữu Quới) rồi đến mẹ tôi là bà Đỗ Thị Tánh - đều đã kê khai, đóng thuế trên toàn bộ khu đất này. Hiện gia đình tôi vẫn còn lưu giữ giấy đóng thuế đất do chế độ cũ cấp tại hai tờ Biên nhận số 118 (năm 1968) và số 605 ( năm 1970).

Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, gia đình tôi vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng và đăng ký đất với chính quyền theo đúng qui định của Nhà nước.

Trong khu đất do gia đình tôi quản lý sử dụng nói trên, có một lô đất diện tích khoảng 5 công (1.800 m2) - nay nằm giáp lộ 10, thuộc thửa 435, tờ bản đồ số 24. Từ xưa tới nay, lô đất này gia đình vẫn để trống chưa cất nhà - do nền đất thấp, trên đất lại có một cái giếng lớn. Từ xưa đến nay, chỉ có duy nhất gia đình tôi coi sóc và có trồng cây ngắn ngày ( chuối, rau …) trên lô đất này.

Tháng 7-1993, theo yêu cầu của UBND xã, tôi đã làm đơn mời UBND xã tham dự cuộc họp gia tộc, để xác định việc gia đình tôi có quyền sử dụng khu đất 5 công nói trên. (Đơn đề ngày 20-7-1993, có bút phê và đóng dấu của Chủ tịch xã).

Ngày 15-08-1993, UBND xã Tân Xuân đã tổ chức cuộc họp gia tộc chúng tôi với sự tham dự gồm những người lớn trong gia tộc và những người đang thực tế ở trên các phần đất lân cận. Chủ trì cuộc họp là ông Ba Liêm ( Ba Tùng) – bí thư chi bộ ấp lúc đó. UBND xã đã lập “Biên bản V/v giải quyết đất đai” – theo đó tất cả những người dự họp đều thống nhất thừa nhận như sau: Ông Ga (tôi) được thừa hưởng 02 phần đất của khu đất nầy. Gồm: Phần 1: từ ranh đất của nhà chú Ron tới nhà cô Tám Bời, với kích thước chiều sâu từ lộ về phía sau là 30m, chiều dài từ ranh đất giáp chú Ron tới nhà cô Tám Bời là 40m. Phần 2: chiều sâu 30m, ngang cạnh lộ lớn 8m.

Thời điểm năm 1993 cũng là lúc Bộ luật Đất đai của Nhà nước ra đời. Theo qui định, những hộ nào đang sử dụng đất đều phải kê khai (để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và đóng thuế. Dựa trên kết quả giải quyết như trên, gia đình tôi đã đăng ký quyền sử dụng đất trên toàn bộ khu đất 5 công này, được UBND xã ghi vào sổ địa bộ.

Tiếp đó, gia đình tôi đã đóng thuế đầy đủ, được cấp Biên lai thuế - trên toàn bộ khu đất 1.800m2 này. Cụ thể là hai Biên số 01948 năm 1995 và 030169 năm 1998. (Trong đợt cấp Giấy CNQSDĐ năm 1997, không hiểu vì lý do gì xã đã bỏ lọt hồ sơ đăng ký của chúng tôi. Xã hứa sẽ chuyển hồ sơ lên lại. Qua năm 1999, xã làm lại tờ “Phiếu thu” về việc đã đóng phí xin cấp GCNQSDĐ).

Qua đầu năm 1994, tôi có xin phép xây dựng một Nhà máy xay lúa trên lô đất này để kinh doanh. Theo hướng dẫn của chính quyền, tôi đã làm “Đơn xin hợp thức hóa chủ quyền đất” gửi UBND xã Tân Xuân. Ngày 22-2-1994, UBND xã Tân Xuân xác nhận trong đơn phần đất trên “thuộc chủ quyền của ông Trần Văn Ga”. Tiếp đó, ngày 15-4-1994, UBND xã xác nhận tôi đủ điều kiện để xây nhà máy, và chuyển hồ sơ lên UBND huyện.

Ngày 10-5-1994, UBND huyện Ba Tri ra Thông báo số 19/TB-UB. Nội dung: “trong vòng 30 ngày (kể từ ngày 10-5-1994 đến hết ngày 10-6-1994 nếu không có ai tranh chấp về tài sản địa điểm và môi trường xây dựng cơ sở này thì UBND huyện sẽ cho phép ông Trần Văn Ga xây dựng cơ sở theo địa điểm đã xin”. ( Tuy nhiên sau đó, vì lý do không đủ vốn, nên tôi đã không cất nhà máy xay xát nữa).

Như vậy, xét về mặt pháp luật, tính từ năm 1908 đến thời điểm ngày 10-5-1994 - đối với khu đất 5 công nói trên, gia đình chúng tôi có quá trình sử dụng rõ ràng, ổn định, không có tranh chấp, đã đăng ký tại UBND xã và đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của người sử dụng đất theo đúng qui định của pháp luật.

II. Đến việc giải quyết tranh chấp đất đai từ “thắng” thành “thua”:

1. Bà Lê Thị Xê dựng chuyện để tranh chấp đất trái pháp luật bị bác đơn:

Qua đầu năm 1995, có bà Lê Thị Xê (ngụ ở ấp Cầu Vĩ, xã Mỹ Chánh) tới tranh chấp một phần (diện tích khoảng 450 m2) trong lô đất 5 công nói trên của gia đình chúng tôi - sau đây gọi là “Khu đất tranh chấp”.

Bà Xê dựng chuyện nói rằng khu đất này trước đây cha chồng của bà là ông Đỗ Hữu Nghi từng ở. Theo chúng tôi tìm hiểu thì được biết trước đây (từ những năm 1930) có thể ông Nghi đã ở đâu đó gần khu đất này (nhưng chắc chắn không phải trên nền khu đất tranh chấp hiện nay) và từ những năm 1945 đã dỡ nhà đi, bỏ đất trống. Bản thân ông Nghi cũng đã chết từ rất lâu, trước năm 1954. Hiện nay không có bằng chứng gì xác định được ông Nghi đã ở trên phần đất nào, thuộc nguồn gốc của ai.
UBND xã Tân Xuân có mời hai bên lên giải quyết - thể hiện tại Giấy mời ngày 8-5-1995 và Giấy mời ngày 18-1-1996. Tại các buổi làm việc, xã đều yêu cầu bà Xê cung cấp giấy tờ chứng minh cơ sở của việc đòi đất. Nhưng bà Xê đều không cung cấp được.

Qua năm 1998, Hội Cựu Chiến Binh xã ngỏ ý xin mượn lô đất tranh chấp nói trên để làm kho và kinh doanh phân bón. Gia đình tôi đồng ý. Theo đó, hai bên có lập “Giấy mượn đất” ngày 22-5-1998, được UBND xã Tân Xuân chứng nhận.

Tuy nhiên, khi Hội cựu chiến binh xã san lấp mặt nền thì bị bà Đỗ Thị Nguyên – là con gái của bà Xê ra ngăn cản. UBND xã lại mời lên giải quyết, có lập Biên bản ngày 13-6-1998. Trong Biên bản này, bà Nguyên nói ngang rằng đất này bà “được chi tộc cho phép ở” – nhưng cũng không có gì để chứng minh.

Sau đó, không ai khiếu nại gì nữa.

Bốn năm sau, qua năm 2002, con trai tôi là Trần Kim Nhựt chuẩn bị lập gia đình, có nhu cầu về nhà ở. Do vậy, chúng tôi đã xây nhà trên khu đất này. Khi đó, bà Nguyên lại ra ngăn cản, đập phá không cho xây dựng. Xã phải mời lên làm việc, có lập “Biên bản v/v đập phá tài sản công dân ngày 4-12-2002”. Xã cũng yêu cầu chúng tôi đình chỉ xây dựng 1 tháng để chờ xem bà Nguyên có giấy tờ gì không. Nhưng bà Nguyên không có giấy tờ gì.
Sau thời gian đình chỉ 1 tháng, tôi có làm Tờ trình và tiếp tục xây dựng xong nhà.

Sau đó, từ cuối năm 2002, vợ chồng tôi cho con trai tôi là Trần Kim Nhựt về đây ở. Qua 2003 anh Nhựt cưới vợ, xây cất thêm thành nhà kiên cố và vợ chồng cùng chung sống tại nhà này. Trong quá trình ở, gia đình anh Nhựt có đăng ký và đã được cấp Sổ hộ khẩu. Đồng thời, hàng năm anh Nhựt vẫn đóng thuế nhà đất đầy đủ trên diện tích đất mình đang sử dụng (có Biên lai thuế và xác nhận của chính quyền địa phương từ 2003 đến nay).

Đến ngày 26-8-2003, UBND huyện Ba Tri có Quyết định số 931/QĐ-UB. Nội dung:

- Bác khiếu nại của bà Đỗ Thị Nguyên (con bà Xê). Lý do: “bà Nguyên không có giấy tờ chứng minh quyền thừa hưởng hợp pháp và cũng không có quá trình sử dụng lâu dài, liên tục trên phần đất tranh chấp với ông Ga”.

- Giữ nguyên hiện trạng đất ông Trần Văn Ga cất nhà cho con ở trên diện tích 454m2 thuộc một phần thửa đất số 435 tờ bản đồ số 24 xã Tân Xuân.

Điều đáng lưu ý là trong Quyết định 931/QĐ-UB nói trên, UBND huyện nhận định về quá trình sử dụng trên khu đất đang tranh chấp không đúng sự thật. Cụ thể theo quyết định này thì “ông Đỗ Kim Thinh có sử dụng, sau đó giao cho ông Đỗ Hữu Nghi (là ông nội của bà Nguyên) Ông Nghi qua đời để lại cho con là Đỗ Hữu Chúc. Năm 1954, ông Chúc tham gia cách mạng, vợ ông Chúc ở 1 thời gian, dở nhà về xã Mỹ Chánh”- đây là những nội dung hoàn toàn không đúng sự thật. Tuy nhiên, vì huyện đã giải quyết cho gia đình tôi “thắng, nên tôi không có ý kiến.

2. Đến việc chính quyền giải quyết lần 2 quay ngược kết quả:

Sau khi bị bác đơn, bà Nguyên không khiếu nại nữa, vụ việc những tưởng kết thúc.

Tuy nhiên, bà Nguyên tìm hiểu về nguồn gốc đất và tìm ra một người có liên quan đến 1 trong 4 chi tộc được hưởng phần đất do ông Đỗ Hữu Được chia năm 1908 ( theo tờ Tương quân mà chúng tôi đã cung cấp cho chính quyền) để lấy cớ đòi đất. Người đó là ông Đỗ Văn Thị ( tự ý đổi tên thành Đỗ Hữu Thị).

“Lý lẽ” của phía ông Thị (bà Nguyên) như sau: Ông Đỗ Kim Thinh ( cháu nội ông Đỗ Hữu Được) - là 1 trong 4 người được ông Được chia đất trong tờ “tương quân” năm 1908. Ông Thinh có con là Đỗ Hữu Trinh. Ông Trinh có con là ông Đỗ Hữu Thị - còn sống - nên ông Thị có quyền tranh chấp. Như vậy, việc ông Thị đòi đất chính là đòi phần của ông nội mình -là ông Thinh. ( Trên thực tế, như đã trình bày ở trên, nhánh ông Thinh không hề ở trên khu đất này, không hưởng đất theo tờ tương quân năm 1908).

Qua năm 2008, ông Thị và bà Nguyên làm “Giấy ủy quyền”. Nội dung giấy ủy quyền như sau: Ông Thị được những người anh em đồng thừa kế “ủy quyền” đất. Nay ông Thị tiếp tục “ủy quyền và cho bà Nguyên đòi đất tại xã Tân Xuân.

Theo đó, ông Đỗ Văn Thị ( do bà Nguyên đại diện) làm đơn khiếu nại, đòi lô đất diện tích 450 m2 thuộc một phần thửa 435, tờ bản đồ số 24 nói trên. Như vậy, đơn khiếu nại đòi đất thực chất là việc đòi đất theo dạng đòi chia “di sản thừa kế” ( đất).

Đến ngày 23-1-2008, UBND huyện Ba Tri bất ngờ ra Quyết định số 149/QĐ-UBND. Nội dung hoàn toàn trái ngược với quyết định lần trước. Cụ thể:

- Thu hồi quyết định số 931/QĐ – UB ngày 26-8-2003 của UBND huyện Ba Tri.

- Giao diện tích 461 m2 đất, thuộc một phần thửa 435, tờ bản đồ số 24, ấp 5 xã Tân Xuân, huyện Ba Tri cho ông Đỗ Hữu Thị quản lý, sử dụng.

- Buộc ông Trần Văn Ga có trách nhiệm di dời giao trả diện tích đất 461 m2 cho ông Đỗ Hữu Thị.

- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định này nếu không đồng ý với nội dung quyết định thì các bên liên quan có quyền khiếu nại đến chủ tịch UBND tỉnh xem xét, giải quyết.

Sau khi nhận quyết định, chúng tôi đã làm đơn khiếu nại lên UBND tỉnh Bến Tre.

Ngày 20-7-2009, UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 1649/QĐ-UBND. Nội dung: Không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Ga (tôi). Công nhận nội dung Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 23-1-2008 của UBND huyện Ba Tri.

III. Hàng loạt sai phạm trong quá trình giải quyết tranh chấp đất:

* Những sai phạm của UBND huyện Bến Tre:

1. Giải quyết sự việc dựa trên câu chuyện “tự sáng tác” về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất không đúng sự thật

Trong Quyết định 149 ngày 23-1-2008, UBND huyện Ba Tri nêu nguồn gốc khu đất đang tranh chấp như sau:

“Sau khi được tương phân, ông Thinh không sử dụng mà giao cho ông Đỗ Hữu Nghi (ông Nghi là em cùng cha khác mẹ với ông Thinh) quản lý, sử dụng, nhưng việc cho này chỉ bằng miệng không có giấy tờ. Ông Nghi sử dụng cho đến khi qua đời thì để lại cho con ruột là ông Đỗ Hữu Chúc sử dụng”.
“Trước năm 1954 đến năm 1960, ông Đỗ Kim Thinh được tương phân nhưng ông không trực tiếp sử dụng mà để lại cho chi họ Đỗ Hữu Nghi thay phiên nhau ở qua nhiều năm và nhiều đời”.

Nhận định như trên là hoàn toàn không đúng sự thật. Việc ông Nghi có sử dụng đất không phải là do ông Thinh “giao cho” ( cũng không có bằng chứng nào) mà thực chất có thể là do ông đã tự mình đến ở với sự đồng ý của ông bà chúng tôi. Vì ông Nghi không có quan hệ gì trong gia tộc họ Đỗ thì làm sao được “giao cho” ? Tuy nhiên, phần đất mà ông Nghi từng sử dụng chắc chắn không phải là phần đất đang có tranh chấp hiện nay. Vì lô đất đang tranh chấp từ trước tới nay là đất trống, giếng, ngoài gia đình tôi, không có bất kỳ ai sử dụng cả - việc này hoàn toàn có thể xác minh, làm rõ.

Việc UBND huyện Ba Tri cho rằng: “ông Nghi là em cùng cha khác mẹ với ông Thinh” là không đúng sự thật. Vì ông Đỗ Hữu Nổi (cha ông Thinh) đã mất từ lúc ông Thinh 3 tuổi, thì làm sao có vợ khác mà đẻ ra ông Nghi ? Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Thanh tra có xuống hỏi ông Thị thì chính ông Thị đã nói “không biết ông Nghi là ai”

Quyết định nêu : “Đến khoảng năm 1954, ông Chúc tham gia Cách mạng, phần đất này gia đình ông Chúc vẫn quản lý, sử dụng” cũng là không đúng. Vì:

+ Thực tế, gia đình ông Nghi đã bỏ đi từ rất lâu trước những năm 1945. Mà ông Chúc là con của ông Nghi, nên không thể có chuyện tới năm 1954 ông Chúc đi Cách mạng, đất này vẫn do gia đình quản lý, sử dụng.

+ Mâu thuẫn với mình : trong Quyết định 931/QĐ-UBND của UBND huyện Ba Tri ngày 26-8-2003 nêu : “Năm 1954, ông Chúc tham gia cách mạng, vợ ông Chúc ở 1 thời gian, dỡ nhà về xã Mỹ Chánh. Phần đất này khoảng năm 1960, ông Nguyễn Văn Niên ở 1 phần, bà Nguyễn Thị Nhu ở 1 phần, diện tích còn lại bỏ trống”. Tức là theo quyết định năm 2003 thì huyện cho rằng phần đất đang tranh chấp để trống từ năm 1960. Nhưng qua năm 2008 thì lại nói rằng “gia đình ông Chúc vẫn quản lý sử dụng”. Đây là những nội dung mâu thuẫn với nhau và không đúng sự thật.

Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là bất luận thế nào thì giữa nội dung câu chuyện vô lý nói trên ( về quá trình sử dụng đất của gia đình ông Chúc) và quyết định giao đất cho ông Thị không hề có mối liên quan gì với nhau. Việc UBND huyện Ba Tri tuyên giao đất cho ông Thị thực chất chính là giải quyết “chia di sản thừa kế về đất đai” – dựa trên một câu chuyện hoàn toàn không có thật - nhưng việc “chia đất” này lại hoàn toàn không có căn cứ pháp lý gì và cũng trái pháp luật (sẽ trình bày ở phần sau).

2. UBND huyện không có thẩm quyền giải quyết chia di sản thừa kế về đất đai:

Theo qui định tại Luật đất đai, Luật khiếu nại tố cáo và Luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết chia di sản thừa kế về đất đai là của Tòa án chứ không phải của chính quyền các cấp.

Trong vụ việc này, ông Thị ủy quyền cho bà Nguyên đòi đất với ly do là đất này dòng họ nhà ông được hưởng từ tờ quân phân lập năm 1908, qua 4 đời người. Như vậy, rõ ràng đây là vụ việc có nội dung về tranh chấp quyền hưởng di sản thừa kế ( đất) – hoàn toàn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc UBND huyện Ba Tri, và sau đó là UBND tỉnh Bến Tre giải quyết vụ việc này là không đúng thẩm quyền, trái pháp luật.

Mặt khác, xét về mặt chủ thể, việc UBND huyện Ba Tri thụ lý Đơn khiếu nại tranh chấp đất đai của ông Đỗ Hữu Thị cũng không đúng. Vì tại thời điểm nộp đơn (năm 2008) ông Thị không có tư cách để tranh chấp đòi đất. Cụ thể: Gia tộc ông Thị ủy quyền cho ông Thị đại diện đòi đất, nhưng tại thời điểm ủy quyền, không có căn cứ hay bằng chứng pháp lý nào xác định lô đất đang tranh chấp là thuộc gia tộc ông Thị. Vậy làm sao có thể ủy quyền tranh chấp đất khi đất đó không phải là đất của mình ?

3. Việc UBND huyện Ba Tri tuyên giao đất cho ông Đỗ Văn Thị - là người đại diện theo ủy quyền – là không đúng luật:

Trong vụ việc này, ông Thị chỉ là người đại diện theo ủy quyền của các đồng thừa kế trong gia tộc ông Thinh để tranh chấp đất chứ không phải là khiếu nại đòi đất cho riêng mình. Như vậy, cho dù xác định rằng khu đất tranh chấp là di sản thừa kế của gia tộc ông Thị thì đất này phải thuộc quyền sử dụng chung của các đồng thừa kế khác, không phải là của cá nhân ông Thị.

Vậy mà UBND huyện Ba Tri lại quyết định “Giao diện tích 461 m2 đất, thuộc một phần thửa 435, tờ bản đồ số 24, ấp 5 xã Tân Xuân, huyện Ba Tri cho ông Đỗ Hữu Thị quản lý, sử dụng” - là hoàn toàn trái pháp luật.

4. UBND huyện Ba Tri đã áp dụng những căn cứ trái pháp luật để giải quyết tranh chấp đất đai.

Điều 50 luật đất đai qui định như sau:
Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.
Trong khi đó, cơ sở mà UBND huyện Ba Tri dùng làm căn cứ để giao đất cho ông Thị là dựa vào hai lý do sau : 1. Nguồn gốc đất, 2. Tờ tương quân lập năm 1908. Cụ thể trong quyết định 149 nêu: “Quyết định 931 công nhận đất cho ông Trần Văn Ga là chưa xem xét cụ thể nguồn gốc và tờ tương phân của ông Đỗ Hữu Được để lại”.

Tuy nhiên, đối chiếu với qui định của pháp luật, có thể khẳng định hai lý do mà UBND huyện vận dụng để giải quyết là hoàn toàn sai. Vì: Việc giải quyết tranh chấp, giao đất cho ai nhất thiết phải dựa vào quá trình sử dụng đất trên thực tế và các giấy tờ pháp lý do Nhà nước qui định.

Ở đây, thực tế gia đình ông Thị không hề sử dụng đất suốt 100 năm qua, gia đình ông Chúc cũng không sử dụng ít nhất từ năm 1954. Và thậm chí giả sử rằng gia đình ông Chúc có sử dụng đất ( như nêu trong quyết định 149) thì lại càng không thể giao cho ông Thị - vì ông Chúc và ông Thị không có họ hàng, không liên quan gì đến nhau.

Mặt khác, tờ tương quân năm 1908 của ông sơ chúng tôi (Đỗ Hữu Được) để lại chỉ là một tờ giấy tham khảo, không có giá trị pháp lý để chứng minh rằng những người có tên trong giấy này đã thực tế sử dụng và có quyền sử dụng đất hợp pháp. Chưa kể theo qui định của pháp luật, đất chưa có giấy tờ hợp pháp thì không thể xem là di sản để chia thừa kế.

Trên thực tế, từ năm 1908 đến ngày 10-5-1994, gia đình chúng tôi là người trực tiếp và duy nhất quản lý, sử dụng, kê khai đóng thuế trên khu đất này. Có sự xác nhận của chính quyền địa phương và những hộ lân cận. Thiết nghĩ đất thuộc quyền sử dụng của gia đình chúng tôi ( như Quyết định số 931/QĐ-UB năm 2003) là hoàn toàn hợp lý.

Hay nói cách khác, chúng tôi cho rằng UBND huyện Ba Tri đã giải quyết không có căn cứ và không đúng pháp luật.

5. Không mời người liên quan – gia đình ông Trần Kim Nhựt đang có nhà trên đất:
Như đã trình bày, năm 2003, sau khi UBND huyện Ba Tri giải quyết lần đầu công nhận đất cho gia đình tôi, chúng tôi đã giao lại đất này cho con trai là Trần Kim Nhựt ở.

Vợ chồng anh Trần Kim Nhựt từ khi về ở đã cất nhà kiên cố, đăng ký hộ khẩu, quá trình ở đều kê khai và đóng thuế nhà đất đầy đủ từ năm 2003 tới nay.
Vậy mà trong quá trình giải quyết từ năm 2008, sau khi anh Nhựt đã về ở 5 năm, UBND các cấp huyện, tỉnh không hề một lần thông báo hay mời anh Nhựt tham gia vào vụ việc với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (có nhà đất hợp pháp trên khu đất đang tranh chấp).

Điều 37 Luật khiếu nại tố cáo năm 2005 và Điều 9 Nghị định 136/2006 qui định rõ “trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu người giải quyết khiếu nại phải trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người có quyền, lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại”. Đồng thời Người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản, gửi kết quả giải quyết khiếu nại cho người có quyền, lợi ích liên quan.

Việc UBND huyện Ba Tri không mời gia đình anh Trần Kim Nhựt có thể nói là sai phạm cơ bản và dẫn đến hậu quả không thể khắc phục được. Vì nếu nay thực hiện theo Quyết định 1649 của UBND tỉnh Bến Tre sẽ dẫn đến hệ quả là “hủy hoại tài sản của công dân trái pháp luật” – vì nhà đất của anh Nhựt có quá trình sử dụng hoàn toàn hợp pháp, giấy tờ đầy đủ và không bị ai tranh chấp.

6. Nội dung phần quyết định trong Quyết định 149/QĐ-UBND sai luật và làm mất quyền khiếu nại lần đầu của đương sự:

Cụ thể, trong phần “quyết định” ghi như sau:

Điều 1: a, Thu hồi Quyết định 931/QĐ – UB ngày 26-8-2003 của UBND huyện Ba Tri. c, Buộc ông Trần Văn Ga di dời nhà giao trả 461m2 đất cho ông Đỗ Hữu Thị.

Điều 2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định, nếu không đồng ý với nội dung quyết định thì các bên liên quan có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, giải quyết.
Việc quyết định như trên là không đúng luật. Vì:
- Hai Quyết định 149/QĐ-UBND ngày 13-1-2008 và Quyết định 931/QĐ-UB ngày 26-8-2003 của UBND huyện Ba Tri là hai quyết định độc lập, có đối tượng chủ thể khiếu nại hoàn toàn khác nhau. Cụ thể: Quyết định 931 là tranh chấp giữa bà Đỗ Thị Nguyên và ông Trần Văn Ga, còn Quyết định 149 là tranh chấp giữa ông Đỗ Hữu Thị và ông Trần Văn Ga. Do vậy, không thể giải quyết bằng cách thu hồi một quyết định đã có hiệu lực và đã được thực thi từ 5 năm trước – đã hết thời hiệu khiếu nại. Vì sau 5 năm, mọi việc đã chuyển biến, người sử dụng đất nay là ông Trần Kim Nhựt chứ không phải là tôi (Ga).

- Thời điểm năm 2008, tôi (Ga) không còn sử dụng đất, căn nhà hiện nay trên lô đất cũng không phải là của tôi. Nên tôi không thể tháo dỡ nhà của người khác để giao đất cho ông Thị. Nếu tôi làm như vậy sẽ là hành vi phạm tội “hủy hoại tài sản công dân”.

- UBND huyện Ba Tri đã hướng dẫn quyền khiếu nại tiếp theo cho đương sự trái luật, làm mất quyền khiếu nại lần đầu của đương sự. Theo qui định tại Luật khiếu nại tố cáo, sau khi UBND cấp huyện ra quyết định giải quyết, trong thời hạn 90 ngày, đương sự có quyền và phải khiếu nại lần đầu đến Người ban hành quyết định : là Chủ tịch UBND huyện Ba Tri. Chủ tịch UBND huyện Ba Tri có trách nhiệm giải quyết khiếu nại lần đầu. Sau đó, nếu không đồng ý thì đương sự có quyền khiếu nại lên UBND tỉnh hoặc khiếu kiện ra Tòa án hành chính. Ở đây UBND huyện Ba Tri lại ghi “trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định này nếu không đồng ý với nội dung quyết định thì các bên liên quan có quyền khiếu nại đến chủ tịch UBND tỉnh xem xét, giải quyết” là sai luật và đã làm mất đi quyền khiếu nại lần đầu của tôi.

* Sai phạm của UBND tỉnh Bến Tre :

1. UBND tỉnh Bến Tre thụ lý đơn khiếu nại không đúng điều kiện, ban hành quyết định sai trình tự:
Theo qui định tại Điều 30 luật khiếu nại tố cáo, người khiếu nại lần đầu có quyền và phải khiếu nại với người đã ra quyết định hành chính. Theo đó, về nguyên tắc sau khi có Quyết định 149, thì trước hết tôi phải và có quyền khiếu nại lên chủ tịch UBND huyện Ba Tri (người đã ra Quyết định).

Thế nhưng, do quyết định 149 có nội dung hướng dẫn quyền khiếu nại tiếp theo sai luật (như đã trình bày ở trên), dẫn đến việc tôi đã khiếu nại lần đầu lên thẳng UBND tỉnh Bến Tre.

Tiếp đó, UBND tỉnh Bến Tre lại thụ lý và giải quyết là không đúng trình tự, thủ tục. Vì theo Điều 6. Nghị định số 136/2006, Cơ quan nhà nước khi nhận được đơn khiếu nại xử lý như sau: “Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì cơ quan nhận được đơn không có trách nhiệm thụ lý nhưng có văn bản chỉ dẫn, trả lời người khiếu nại”. Như vậy, theo qui định thì UBND tỉnh Bến Tre không được thụ lý đơn mà phải hướng dẫn tôi quay về khiếu nại tới Chủ tịch UBND huyện Ba Tri.

Ở đây UBND tỉnh lại thụ lý sai, sau đó ban hành Quyết định là không đúng trình tự thủ tục, không có giá trị pháp lý.

2. UBND tỉnh Bến Tre cũng giải quyết vụ việc dựa theo một câu chuyện không có thật:
Xem xét về nguồn gốc khu đất tranh chấp, trong Quyết định số 1649/QĐ-UBND, UBND tỉnh Bến Tre nhận định như sau:

“Khu đất tranh chấp do ông Đỗ Hữu Được đã để lại cho cháu nội là Đỗ Kim Thinh quản lý, canh tác từ năm 1908. Sau đó ông Thinh để lại cho người em họ là ông Đỗ Hữu Nghi. Qua năm 1947, ông Nghi chết để lại cho con là ông Đỗ Hữu Chúc. Rồi ông Chúc tham gia cách mạng vợ con ông Chúc vẫn tiếp tục ở. Năm 1967, ông Chúc chết, sau đó bà Lê Thị Xê “tháo dỡ di dời nhà” về sinh sống tại ấp Cầu Vĩ, xã Mỹ Chánh huyện Ba Tri. Sau năm 1975, gia đình bà Đỗ Thị Bời vẫn tiếp tục ở lại phần đất này”.
Năm 1993, ông Ga đến gặp bà Nguyên (con ông Chúc và bà Xê) để thỏa thuận xin sử dụng phần đất trống cặp lộ, để ông Ga xây cất nhà máy xay xát lúc gạo nhưng bà Nguyên không đồng ý.

Năm 1995, ông Ga có ý định tự ý cho thuê diện tích 461 m2 đất trên cho người khác sử dụng, bà Nguyên phát hiện và gửi đơn khiếu nại tranh chấp quyền sử dụng.

Năm 1996, khi Nhà nước đo đạc đất, ông Ga tự chỉ ranh đo đạc và kê khai đăng ký diện tích 1. 807 m2 đất thuộc thửa 435, bao gồm: 461 m2 đất đang tranh chấp, phần đất nhà ở của bà Bời và của bà Nhu đang ở”.

Chúng tôi khẳng định toàn bộ “câu chuyện” nói trên hoàn toàn do sự “tưởng tượng” của cán bộ thanh tra nào đó, không đúng sự thật. Cụ thể:

- Việc nói ông Nghi ‘để lại” cho ông Chúc, qua năm 1967 ông Chúc chết vợ con vẫn tiếp tục ở là vô căn cứ không đúng sự thật và cũng không có giấy tờ gì chứng minh.

- Việc nói rằng năm 1993, “ông Ga đến gặp bà Đỗ Thị Nguyên (con ông Chúc và bà Xê) để thỏa thuận xin sử dụng phần đất trống cặp lộ, để ông Ga xây cất nhà máy xay xát lúc gạo và bà Nguyên không đồng ý” - là hoàn toàn dối trá, không đúng sự thật. Thực tế như đã trình bày, sau khi có “ Biên bản V/v giải quyết đất đai” năm 1993, gia đình tôi đã kê khai, đóng thuế đầy đủ. Sau đó qua năm 1994, tôi có xin phép xây dựng một Nhà máy xay lúa trên lô đất này để kinh doanh. Theo hướng dẫn, tôi đã làm “Đơn xin hợp thức hóa chủ quyền đất” gửi UBND xã Tân Xuân. Ngày 22-2-1994, UBND xã Tân Xuân xác nhận phần đất trên “thuộc chủ quyền của ông Trần Văn Ga”. Tiếp đó, ngày 15-4-1994, UBND xã xác nhận tôi đủ điều kiện để xây nhà máy, và chuyển lên UBND huyện xem xét. Và ngày 10-5-1994, UBND huyện Ba Tri ra Thông báo số 19/TB-UB. Nội dung: “trong vòng 30 ngày (kể từ ngày 10-5-1994 đến hết ngày 10-6-1994 nếu không có ai tranh chấp về tài sản địa điểm và môi trường xây dựng cơ sở này thì UBND huyện sẽ cho phép ông Trần Văn Ga xây dựng cơ sở theo địa điểm đã xin”.

- Việc nói rằng “Năm 1995, ông Ga có ý định tự ý cho thuê diện tích 461 m2 đất trên cho người khác sử dụng, bà Nguyên phát hiện” cũng hoàn toàn không đúng sự thật. Mà thực tế là năm 1998, Hội Cựu Chiến Binh xã có ngỏ ý xin mượn lô đất tranh chấp nói trên để làm kho và kinh doanh phân bón. Gia đình tôi đồng ý. Theo đó, hai bên có lập Giấy mượn đất ngày 22-5-1998, được UBND xã Tân Xuân chứng nhận.

- Việc nói “năm 1996, khi Nhà nước đo đạc đất, ông Ga tự chỉ ranh đo đạc và kê khai đăng ký diện tích 1. 807 m2 đất thuộc thửa 435, bao gồm: 461 m2 đất đang tranh chấp, phần đất nhà ở của bà Bời và của bà Nhu đang ở” là không đúng. Mà gia đình chúng tôi đã đăng ký đất theo kết quả giải quyết từ năm 1993. Mặt khác, tại Biên bản giải quyết đất năm 1993, chính bà Nhu là người tham dự cuộc họp đã thừa nhận phần đất này là thuộc quyền sử dụng của gia đình tôi.

Thiết nghĩ toàn bộ những tình tiết không đúng sự thật như trên hoàn toàn có thể xác minh, lấy lời khai của những người cư ngụ lâu năm tại địa phương để làm sáng tỏ.

3. Giải quyết tranh chấp đất đai nhưng không căn cứ vào giấy tờ, quá trình sử dụng thực tế và làm “vô hiệu” toàn bộ giấy tờ đăng ký, quá trình sử dụng và đóng thuế của gia đình tôi.

Như đã trình bày, khu đất tranh chấp nói trên thực chất đã được giải quyết năm 2003. Sau đó, gia đình tôi chuyển giao lại cho con trai là Trần Kim Nhựt tiếp tục sử dụng. Quá trình sử dụng anh Nhựt có xây nhà, kê khai và đóng thuế nhà đất đầy đủ từ năm 2003 tới nay.

Ai cũng biết rằng Nhà nước chỉ thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nếu người sử dụng có giấy tờ hợp pháp, có quá trình sử dụng ổn định, lâu dài và có đăng ký với UBND xã. Việc mua bán, chuyển nhượng đất (nếu có) cũng phải có giấy tờ pháp lý, tuân thủ các thủ tục do Nhà nước qui định. Vậy mà ở đây, trong khi phía ông Thị không hề sử dụng, không có bất kỳ một mẩu giấy nào chứng minh về quyền sử dụng hợp pháp của mình – thì UBND tỉnh lại liên tục “hợp thức hóa” câu chuyện tưởng tượng nói trên qua những lời “suy luận vô căn cứ”. Thật là hết sức phi lý.

Điều đáng nói là chính từ việc cho rằng câu chuyện giả tưởng nói trên là đúng, đã dẫn đến kết quả hết sức phi lý, đầy mâu thuẫn. Đó là vô hình chung đã làm vô hiệu toàn bộ quá trình sử dụng đất hợp pháp, ổn định và lâu dài của gia đình tôi và anh Trần Kim Nhựt. Cụ thể là đã:

- Làm vô hiệu tính hợp pháp việc gia đình tôi đã sử dụng đất ổn định, đăng ký và đóng thuế đất từ năm 1908 đến ngày 5-10-1996. Trong khi đây là căn cứ quan trọng để Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của gia đình chúng tôi – theo qui định tại Luật đất đai.

- Làm vô hiệu Sổ hộ khẩu gia đình, giấy đăng ký đất và quá trình đóng thuế nhà đất của gia đình anh Trần Kim Nhựt ( con trai chúng tôi) từ năm 2003 đến nay. Trong khi việc này là hoàn toàn hợp pháp, không có ai tranh chấp.

Kính thưa Quí cơ quan,

Qua những điều trình bày trên đây, chúng tôi cho rằng UBND huyện Ba Tri và UBND tỉnh Bến Tre đã giải quyết vụ việc này một cách hết sức cẩu thả, trái thẩm quyền, bất chấp sự thật khách quan, bỏ qua những trình tự, thủ tục luật định, áp dụng pháp luật vô căn cứ và qua đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình chúng tôi – trong đó có hộ anh Trần Kim Nhựt.
Thời gian qua, chúng tôi đã có nhiều đơn khiếu nại xin được xem xét, giải quyết lại nhưng đều chưa được giải quyết thỏa đáng.

Cụ thể: Ngày 25-9-2009, UBND tỉnh Bến Tre có công văn số 3958/UBND-TD, cho rằng đơn khiếu nại của chúng tôi “không cung cấp được giấy tờ gì chứng minh được quyền thừa hưởng quyền sử dụng phần đất trên”. Chúng tôi cho rằng đây là cách trả lời thiếu trách nhiệm, bất chấp sự thật – vì trong Đơn thực chất đã có hàng loạt tài liệu, thông tin mới, chứng minh quá trình sử dụng đất của gia đình chúng tôi hoàn toàn phù hợp với qui định của pháp luật – theo qui định tại Luật Đất Đai phải được xem xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 7-10-2009, Thanh tra Chính Phủ có Phiếu hướng dẫn số 176970/HD-VP hướng dẫn tôi gửi đơn đến Tòa hành chính TAND tỉnh Bến Tre để được giải quyết. Theo đó, tôi đã gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa hành chính – TAND tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, đến ngày 6-12-2010, Tòa án hành chính tỉnh Bến Tre có văn bản số 90/TAND, có nội dung trả lại đơn kiện của tôi vì cho rằng “không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”.

Trong khi đó, Phòng Tài nguyên môi trường huyện Ba Tri đã nhiều lần mời tôi lên, yêu cầu thực hiện quyết định của tỉnh, hoặc nếu không thì phải có văn bản hướng dẫn giải quyết tiếp theo của cơ quan có thẩm quyền.

Vào các ngày 22-3-2011, 28-4-2011, 15-6-2011 vừa qua chúng tôi đã 3 lần có đơn khiếu nại gửi tới Quí cơ quan, nhưng tới nay vẫn là sự im lặng đáng sợ từ nơi có thẩm quyền là UBND tỉnh Bến Tre. Chỉ có công văn chuyển đơn của HĐND tỉnh Bến Tre và UBND huyện Ba Tri – đều theo hướng “thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh bến Tre”.

Do vậy, nay tôi có văn bản này (lần 4) gửi tới Quí cơ quan, khẩn thiết kiến nghị như sau:

- UBND tỉnh Bến Tre xem xét lại và ra quyết định hủy Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 20-7-2009 của mình, đồng thời có văn bản hướng dẫn UBND huyện Ba Tri thụ lý đơn khiếu nại lần đầu của tôi để xem xét, giải quyết lại vụ việc – theo đúng trình tự và qui định của pháp luật.

- UBND huyện Ba Tri xem xét và giải quyết lại vụ việc – theo hướng chuyển hồ sơ qua Tòa án dân sự giải quyết. Vì đây là vụ kiện đòi đất theo dạng là di sản thừa kế, trên đất tranh chấp lại đang có tài sản (nhà) của người khác – không thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền.

Kính mong sớm được xem xét, giải quyết – vì càng để lâu vụ việc càng phức tạp, thiệt hại càng lớn.

Tôi xin chân thành cám ơn.
Kính đơn

(Đã ký)

--------------------

Đính kèm:

- Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 20-7-2009 của UBND tỉnh Bến Tre.
- Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 23-1-2008 của UBND huyện Ba Tri.
- Quyết định số 931/QĐ-UB ngày 26-8-2003 của UBND huyện Ba Tri.
- Tờ “Tương quân” chia đất năm 1908.
- Biên bản V/v giải quyết đất đai ngày 15-08-1993.
- Đơn mời dự họp ngày 20-7-1993, có bút phê và đóng dấu của Chủ tịch xã.
- Đơn xin đăng ký kinh doanh ngày 21-2-1994, có xác nhận của UBND xã ngày 15-4-1994.
- Đơn xin hợp thức hóa chủ quyền đất ngày 21-2-1994.
- Biên bản họp tổ ngày 18-3-1994.
- Thông báo số 19/TB-UB ngày 10-5-1994 của UBND huyện Ba Tri.
- Giấy mời ngày 8-5-1995 và Giấy mời ngày 18-1-1996 về giải quyết tranh chấp đất.
- Giấy mượn đất của Hội cựu chiến binh ngày 22-5-1998, được UBND xã Tân Xuân chứng nhận.
- Biên bản v/v đập phá tài sản công dân ngày 4-12-2002.
- Phiếu hướng dẫn số 176970/HD-VP ngày 7-10-2009 của Thanh tra Chính Phủ.
- Văn bản số 90/TAND ngày 6-12-2010 của Tòa hành chính tỉnh Bến Tre.
- Biên lai thuế số 01948 năm 1995 và 030169 năm 1998.
- Các biên lai thu thuế nhà đất của ông Trần Kim Nhựt.
- Giấy xác nhận nộp thuế nhà đất của cơ quan thuế ngày 15-1-2010 từ năm 2003 đến nay.
- Biên lai đóng thuế của ông Đỗ Hữu Lộc và Đỗ Thị Tánh năm 1968 và 1970.
- Phiếu thu năm 1999, về việc đã đóng phí xin cấp GCNQSDĐ năm 1993.
- Phiếu hướng dẫn gửi đơn tới UBND tỉnh Bến Tre của HĐND tỉnh Bến Tre ngày 6-4-2011.
- Phiếu hướng dẫn gửi đơn tới UBND tỉnh Bến Tre ngày 25-7-2011 của UBND huyện Ba Tri.

--------------------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bến Tre, ngày 20 -4-2011

ĐƠN KHIẾU NẠI
(V/v: Ý kiến trả lời Đơn khiếu nại của cha mẹ tôi)

Kính gửi:  BAN PHÁP CHẾ HĐND TỈNH BẾN TRE
              ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
              ỦY BAN TƯ PHÁP QUỐC HỘI ( báo cáo)

Tôi tên: TRẦN KIM NHỰT, sinh 1980.
Hộ khẩu & nơi cư trú : 227/TH, Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

(Là con của ông bà Trần Văn Ga đang có Đơn khiếu nại về việc UBND huyện Ba Tri và UBND tỉnh Bến Tre giải quyết tranh chấp đất đai sai pháp luật, không đúng thẩm quyền).

Nay tôi làm đơn này khiếu nại về việc Ban pháp chế HĐND tỉnh Bến Tre có ý kiến trả lời phi lý, qua đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của tôi.

Cụ thể như sau:

Nguyên từ năm 2003, cha mẹ tôi có vụ tranh chấp về quyền sử dụng khu đất diện tích 461m2, tọa lạc tại ấp 5, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri (là khu đất hiện nay tôi đang ở) với bà Đỗ Thị Nguyên (bà Nguyên là người khiếu nại).

Ngày 26-8-2003, UBND huyện Ba Tri có Quyết định số 931/QĐ-UB bác khiếu nại của bà Nguyên, giao đất này cho cha mẹ tôi được quyền sử dụng.

Do bà Nguyên không khiếu nại tiếp lên UBND tỉnh, nên theo qui định của pháp luật, Quyết định của UBND huyện có giá trị pháp lý. Gia đình tôi đã thực hiện. Cụ thể là cha mẹ tôi đã cho tôi mảnh đất trên. Từ cuối năm 2003, vợ chồng tôi đã cất nhà kiên cố, đăng ký hộ khẩu, đóng thuế đất đầy đủ cho tới nay. Tất cả đều công khai, rõ ràng và minh bạch.

Những tưởng mọi việc đã xong, thì đến ngày 23-1-2008, từ đơn khiếu nại của ông Đỗ Hữu Thị - không liên quan gì tới bà Nguyên, UBND huyện Ba Tri lại bất ngờ ra Quyết định số 149/QĐ-UBND, nội dung: hủy QĐ 931/QĐ-UB từ năm 2003 nói trên, buộc cha mẹ tôi (Trần Văn Ga) phải tháo dỡ nhà của tôi để giao đất cho ông Thị !

Vì quá phi lý, cha mẹ tôi đã làm đơn khiếu nại. Đến ngày 20-7-2009, UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 1649/QĐ-UBND, bác đơn khiếu nại của cha mẹ tôi.

Kính thưa Quí cơ quan,

Quyết định “ngược chiều” 149/QĐ-UBND của UBND huyện Ba Tri và UBND tỉnh Bến Tre là hoàn toàn sai thẩm quyền, trái pháp luật - ở mức độ hết sức cơ bản và nghiệm trọng. Cụ thể là:

- Đã vô hiệu hóa (bằng việc tuyên hủy) một Quyết định đã có hiệu lực pháp luật và thực tế đã thi hành từ 5 năm trước. UBND huyện không thể và không có quyền tuyên hủy một quyết định do chính mình đã ban hành – dựa trên một lá Đơn khiếu nại của đương sự khác, không phải là việc khiếu nại tiếp theo của người khiếu nại ban đầu. Vì việc tranh chấp khu đất này đã có quyết định giải quyết rồi.

- Quá trình giải quyết đơn khiếu nại của ông Thị không hề thông báo gì cho tôi biết – trong khi tôi đã xây cất nhà kiên cố, cư ngụ trên đất này từ năm 2003 đến nay. Dù bất kỳ là đơn khiếu nại của ai, tôi cũng được quyền tham gia với tư cách là “người có quyền lợi liên quan”.

- Dẫn đến việc Cơ quan Nhà nước đã ra một quyết định có nội dung hủy hoại bất hợp pháp tài sản (nhà cửa) và quyền sử dụng đất hợp pháp của tôi. Vì căn nhà tôi ở có nguồn gốc hợp pháp, quá trình sử dụng có đóng thuế đầy đủ.

Chính vì vậy, cha mẹ tôi đã có Đơn khiếu nại 2 Quyết định nói trên của UBND huyện Ba Tri và UBND tỉnh Bến Tre.

Ngày 25-9-2009, UBND tỉnh Bến Tre có công văn 3958/UBND-TD trả lời rằng Đơn của cha mẹ tôi “không cung cấp được giấy tờ gì để chứng minh được quyền thừa hưởng quyền sử dụng phần đất trên” - nên không có cơ sở xem xét.

Vì trả lời của UBND tỉnh là hoàn toàn không đúng sự thật, trong khi cha mẹ tôi đã đưa ra hàng chục tài liệu, chứng cứ mới – chứng minh rõ ràng những sai sót của UBND huyện Ba Tri và UBND tỉnh Bến Tre. Mặt khác đây cũng không phải là vụ tranh chấp về di sản thừa kế (nếu là tranh chấp về di sản thừa kế thì phải do Tòa án giải quyết). Chẳng qua UBND tỉnh đã cố tình bất chấp sự thật, không thèm xem xét những điều cha mẹ chúng tôi đã trình bày, cung cấp. Nên cha mẹ tôi đã tiếp tục gửi Đơn khiếu nại lại – nhưng tới nay vẫn chưa được trả lời.

Trong khi đó, vì nghĩ rằng HĐND chức năng giám sát thực thi pháp luật, nên cha mẹ tôi gửi Đơn đến HĐND tỉnh Bến Tre, nhờ xem xét, có ý kiến. Thế mà thay vì xem xét, trả lời, ông Đoàn Ngọc Mai, Phó Trưởng Ban pháp chế HĐND tỉnh lại tiếp tục “nói theo” UBND tỉnh, cho rằng không có gì mới và né tránh trách nhiệm bằng cách đề nghị liên hệ với UBND tỉnh Bến Tre.

Tôi vô cùng bức xúc và xin được thắc mắc hỏi Quí cơ quan như sau:

1. Căn cứ vào qui định nào của pháp luật, UBND huyện lại có thể hủy một Quyết định của mình - đã có hiệu lực từ 5 năm trước – trong khi người khiếu nại lần sau là người hoàn toàn mới, không phải là khiếu nại tiếp theo?

2. Tại sao khi giải quyết tranh chấp đất đai, tôi là người cư ngụ, có nhà cửa hợp pháp, đóng thuế sử dụng đất đầy đủ lại không hề hay biết, không được thông báo. Nếu thực hiện theo quyết định mới, sẽ dẫn đến việc hủy hoại tài sản hợp pháp của tôi: ai là người chịu trách nhiệm đền bù ?

3. Hộ khẩu, giấy tờ thuế đất của tôi – là những tài liệu pháp lý chứng minh tôi có quyền và đã thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng theo đúng qui định của Luật Đất đai phải chăng nay trở thành “giấy lộn”, không có giá trị gì ?

Kính mong được xem xét, trả lời.
Kính đơn

( Đã ký)

 

Và dưới đây là hai quyết định giải quyết của UBND tỉnh Bến Tre - kết quả trái ngược nhau.