Qui định về việc kháng cáo (vụ án dân sự)

Luật sư TRẦN HỒNG PHONG giới thiệu

(Haimat.vn) – Trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự, sau khi xét xử sơ thẩm - có bản án sơ thẩm hoặc thẩm phán cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ/ tạm đình chỉ xét xử vụ án, nếu không đồng ý, đương sự có quyền “kháng cáo” trong thời hạn quy định. Trình tự và thủ tục kháng cáo được quy định cụ thể tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Quy định chung về kháng cáo

Tại Việt Nam, luật qui định việc xét xử các vụ án (dân sự, hình sự …) thông qua 2 cấp : sơ thẩm và phúc thẩm. Sau khi xét xử sơ thẩm, nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa – đương sự có quyền đề nghị tòa án cấp trên xem xét, xử lại một lần nữa hoặc xử lại các vấn đề mà mình cho rằng chưa thỏa đáng – gọi là xử phúc thẩm. Thủ tục này gọi là “kháng cáo”. Lúc này, bản án (hay quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật – vì bị kháng cáo.

Những người có quyền kháng cáo bao gồm các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), hoặc người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện trong vụ án (gọi chung là người kháng cáo).

Để thực hiện việc kháng cáo, người kháng cáo bắt buộc phải làm “Đơn kháng cáo” yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Đơn kháng cáo phải có các nội dung cơ bản sau: ngày, tháng, năm làm đơn; tên, địa chỉ của người kháng cáo; phần bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo; lý do kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo; chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

Sau khi nộp đơn kháng cáo, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung, hoặc rút đơn kháng cáo trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên tòa án phúc thẩm. Việc thay đổi, bổ sung kháng cáo không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nếu thời hạn kháng cáo đã hết. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo tại phiên toà được ghi vào biên bản phiên toà.

Thủ tục kháng cáo

Sau khi làm đơn kháng cáo, người kháng cáo nộp đơn cho Toà án sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm (kèm theo tài liệu, chứng cứ bổ sung - nếu có).

Sau khi nhận được đơn, Tòa án sơ thẩm sẽ kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo. Sau đó ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Trong thời hạn 10 ngày, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí và biên lai đóng tạm ứng án phí cho Tòa án sơ thẩm.

Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, toà án sơ thẩm sẽ gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Toà án phúc thẩm. Đồng thời, sẽ thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo.

Ví dụ: ông A kiện ông B vi phạm hợp đồng thuê nhà. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A, theo đó tuyên (bản án sơ thẩm) ông B đã vi phạm hợp đồng, phải bồi thường cho ông A 50 triệu đồng. Ông B không đồng ý với bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo, yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Sau khi nhận đơn kháng cáo của ông B, tòa án (nơi xét xử sơ thẩm) sẽ có “Thông báo về việc kháng cáo” gửi ông A. Sau khi nhận được thông báo như vậy, ông A biết là bên ông B kháng cáo, qua đó “chuẩn bị” để tham gia phiên tòa phúc thẩm.

Theo qui định, người được thông báo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Toà án cấp phúc thẩm.

Thời hạn kháng cáo

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án – thường là ngày xét xử hoặc có khi do tình tiết phức tạp, cần có thời gian nghị án, tòa có thể dời ngày tuyên án sau khi xét xử (tối đa 1 tuần). Trường hợp đương sự không có mặt tại phiên toà (xét xử vắng mặt) thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án là 7 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.

Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện, ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.

Cần lưu ý là thời hạn kháng cáo như qui định ở trên là rất quan trọng. Đương sự nhất thiết phải kháng cáo trong thời hạn qui định này. Thông thường nên nộp đơn kháng cáo trước khi hết thời hạn vài ngày ( để có thể tránh những trục trặc khách quan không lường trước được). Vì nếu hết thời hạn, Tòa án sẽ không nhận đơn kháng cáo – xem như đương sự bị mất quyền kháng cáo ( cũng có nghĩa là bản án sơ thẩm mà mình không đồng ý sẽ có hiệu lực pháp luật, bắt buộc phải thi hành). Rất oan uổng.

Cần lưu ý: Mặc dù theo qui định, khi xét xử và tuyên án, Hội đồng xét xử (thẩm phán) có nghĩa vụ phải giải thích rõ về quyền và nghĩa vụ của các đương sự, trong đó có quyền và thời hạn kháng cáo. Nhưng trên thực tế không loại trừ khả năng vì lý do nào đó, Tòa đã “lơ” đi phần này. Hoặc thậm chí giải thích sai ! Hoặc đương sự không hiểu rõ lời giải thích. Nên đã bị mất cơ hội kháng cáo.

Một lưu ý nữa là mặc dù theo qui định, thì trong vòng vài ngày sau khi tuyên án, tòa án phải giao bản án (hay quyết định) sơ thẩm cho đương sự. Để đương sự nắm được nội dung và kháng cáo. Thế nhưng trên thực tế hầu hết Tòa đều giao bản án cho đương sự sau khi đã hết thời hạn kháng cáo ( sau 15 ngày). Chính vì vậy, đương sự không nhất thiết phải chờ đến khi nhận được bản án sơ thẩm mới làm đơn kháng cáo, mà nên “nhớ lại” án sơ thẩm đã được tuyên đọc như thế nào, rồi làm đơn kháng cáo gửi Tòa. Sau này có thể thay đổi hoặc bổ sung nội dung kháng cáo.

Kháng cáo quá hạn

Trường hợp đã quá thời hạn kháng cáo, mà đương sự mới kháng cáo, khi đó phải làm đơn kháng cáo quá hạn, kèm theo bản tường trình về lý do kháng cáo quá hạn (và các tài liệu, chứng cứ bổ sung - nếu có).

Sau khi nhận đơn, Tòa án sơ thẩm sẽ gửi cho Toà phúc thẩm. Trong vòng 10 ngày, Toà phúc thẩm thành lập Hội đồng để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn. Khi có kết quả, Tòa án phúc thẩm sẽ gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn và Toà án sơ thẩm.

Qua qui định như trên, có thể thấy việc kháng cáo quá hạn rất nhiêu khê và việc có được chấp nhận hay không phụ thuộc vào Tòa án chứ không còn thuộc “quyền” của đương sự nữa. Quí vị tuyệt đối đừng bao giờ để rơi vào cảnh phải kháng cáo quá hạn nhé.

Hậu quả của việc kháng cáo

Theo qui định, bản án hay quyết định bị kháng cáo được xem là chưa có hiệu lực pháp luật, chưa có giá trị thi hành.

Hay chính xác hơn là chỉ có bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo mới có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo. Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.

 

Cẩm nang pháp luật Ecolaw là tài sản trí tuệ của công ty luật hợp danh Ecolaw. Có ý nghĩa và chỉ nên sử dụng như tài liệu tham khảo. Công ty luật hợp danh Ecolaw không chịu trách nhiệm trong trường hợp quí vị sử dụng vào mục đích khác.

Quí vị có thể click vào “DANH MỤC CẨM NANG PHÁP LUẬT ECOLAW” để tìm đọc nội dung mà mình quan tâm.

Lưu ý : bài viết trên thuộc lĩnh vực : “Tố tụng dân sự”

---------------------------------------------------------

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH ECOLAW - ĐỊA CHỈ TIN CẬY CỦA MỌI NGƯỜI

843 Lê Hồng Phong, P.12, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
Tel : (08) 3862 2278 – email: ecolaw@ecolaw.vn – website: ecolaw.vn