Qui định về việc kết hôn, ly hôn của các dân tộc thiểu số & những hủ tục/phong tục bị cấm hoặc cần xóa bỏ

Luật sư TRẦN HỒNG PHONG giới thiệu

(Haimat.vn) – Việt Nam là đất nước của 54 dân tộc anh em. Do truyền thống văn hóa, điều kiện vật chất, trình độ và ý thức pháp luật còn thấp, các dân tộc thiểu số hiện vẫn có nhận thức và duy trì những quan niệm, tập tục trong hôn nhân có sự khác biệt và không phù hợp với Luật hôn nhân gia đình. Mà điều quan trọng là có thể làm ảnh hưởng đến quyền bình đẳng về mọi mặt và hạnh phúc của người phụ nữ.

Do vậy, từ năm 2000, Chính phủ đã ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng Luật hôn nhân và gia đình riêng đối với các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Đó là Nghị định 32/2000.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Qui định tại Nghị định 32/2000 áp dụng đối với công dân thuộc các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa.

Các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số (được ghi trong Phụ lục A ban hành kèm theo Nghị định này) thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc và không trái với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình được tôn trọng và phát huy.

Các phong tục, tập quán lạc hậu (được ghi trong Phụ lục B ban hành kèm theo Nghị định này) trái với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì bị nghiêm cấm hoặc vận động xoá bỏ.

Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình, vận độngngười dân phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp và xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình.

QUY ĐỊNH VỀ KẾT HÔN

Tuổi kết hôn

Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn để bảo đảm sự phát triển giống nòi, bảo đảm cho các bên nam, nữ có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng chăm lo cuộc sống gia đình.

Quyền tự do kết hôn của nam, nữ

Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; không phân biệt dân tộc, tôngiáo, tín ngưỡng; không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào. UBND cấp xã, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên, các Già làng, Trưởng bản, các vị chức sắc tôn giáo vận động, thuyết phục các bậc cha mẹ hướng dẫncon xây dựng gia đình tiến bộ, không được cưỡng ép hoặc cản trở việc lấy vợ,lấy chồng của con; vận động mọi người xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở quyền tự do kết hôn của nam và nữ.

Nghiêm cấm tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ.

Không ai được lợi dụng việc xem tướng số hoặc các hình thức mê tín dị đoan khác đểcản trở việc thực hiện quyền tự do kết hôn của nam và nữ.

Kéo vợ/cướp vợ bị xem là "hủ tục", cấm ( ảnh minh họa)

Quyền tự do kết hôn của người phụ nữ goá chồng, người đàn ông goá vợ

Người phụ nữ goá chồng, người đàn ông goá vợ có quyền kết hôn với người khác và không phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng hoặc nhà vợ cũ. Khi kết hôn với người khác, quyền lợi về con cái và tài sản của người đó được pháp luật bảo vệ.

Nghiêm cấm tập quán buộc người vợ goá, chồng goá phải lấy một người khác tronggia đình chồng cũ hoặc gia đình vợ cũ mà không được sự đồng ý của người đó.

Cấm việc kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người trong dòng họ với nhau
Nghiêm cấm tập quán kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có liênquan dòng họ trong phạm vi 3 đời.

Vận động xoá bỏ phong tục, tập quán cấm kết hôn giữa những người có liên quan dòng họ trong phạm vi từ 4 đời trở lên.

Đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã

UBND cấp xã, nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn, thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên kết hôn, việc đăng ký kết hôn cho người dân được thực hiện tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc tại tổ dân phố, thôn, bản, phum, sóc, nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn.

Khi đăng ký kết hôn, các bên nam, nữ cần làm Tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trìnhGiấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế. UBND cấp xã kiểm tra, nếu các bên đã có đủ điềukiện kết hôn theo quy định tại Nghị định này, thì thực hiện việc đăng ký kế thôn. Sau khi hai bên nam, nữ ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch UBND cấp xã ký Giấy chứng nhận kết hôn. Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn được trao cho vợ, chồng tại trụ sở UBND cấp xã hoặc tại nơi cư trú.

Việc đăng ký kết hôn cho người dân thuộc các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa được miễnlệ phí.

Áp dụng phong tục, tập quán trong nghi thức cưới hỏi

Các nghi thức cưới hỏi tiết kiệm, lành mạnh thể hiện bản sắc của dân tộc mìnhmà không trái với những quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình được tôn trọng, phát huy.

Nghiêm cấm việc thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiềnmặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché... để dẫn cưới) và các hành vi cản trởviệc kết hôn hoặc xâm phạm đến nhân phẩm của người phụ nữ.

QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG, GIỮA CHA MẸ VÀ CON, GIỮA CÁC THÀNH VIÊN KHÁC TRONG GIA ĐÌNH

Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng

Trong gia đình, vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt.

Các dân tộc có quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ có các phong tục, tập quán không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, thì UBND cấp xã, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên, các Già làng, Trưởng bản, các vị chức sắc tôn giáo vận động, thuyết phục người dân từng bước xoá bỏ sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ gia đình, bảo đảm vợ, chồng có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nơi cư trú của vợ, chồng

Vợ, chồng tự lựa chọn, thoả thuận với nhau về việc ở riêng hoặc ở chung với giađình nhà vợ hoặc gia đình nhà chồng, không bị ràng buộc bởi phong tục, tậpquán. Sau khi kết hôn, vợ, chồng có quyền sống chung với nhau, không ai đượcngăn cản.

Các phong tục, tập quán ở dâu hoặc ở rể, thì chỉ được áp dụng khi phù hợp với nguyện vọng lựa chọn nơi cư trú của vợ, chồng.

Quyền thừa kế tài sản giữa vợ, chồng

Các phong tục, tập quán không bảo đảm quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ vàchồng khi một bên chết, thì vận động xoá bỏ phong tục, tập quán này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bên còn sống.

Việc thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng khi một bên chết, thể hiện bản sắc dân tộc mà không trái với những quy định của pháp luật về thừa kế, thì đượctôn trọng và khuyến khích phát huy.

Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dụccon và bảo đảm quyền bình đẳng giữa các con.

Nghiêm cấm cha, mẹ có hành vi phân biệt đối xử giữa các con, không nuôi dưỡng, chămsóc con, cố ý không cho con đi học, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con, xúi giục con thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Vận động xoá bỏ các phong tục, tập quán thể hiện sự phân biệt đối xử giữa con traivà con gái trong gia đình của các dân tộc theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ.

QUY ĐỊNH VỀ LY HÔN

Tòa án giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng

Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng. Vận động xóa bỏ tập quán ly hôn do Già làng, Trưởng bản hoặc các vị chức sắc tôn giáo giải quyết.

Trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của vợ, chồng, Nhà nước khuyến khích các Già làng, Trưởng bản hoặc các vị chức sắc tôn giáo thực hiện hoà giải ở cơsở. Việc hoà giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở.

Chia tài sản của vợ, chồng khi ly hôn

Khi ly hôn, việc chia tài sản chung của vợ, chồng phải đảm bảo sự công bằng, hợp lý và thực hiện theo nguyên tắc mà pháp luật quy định. Đốivới các dân tộc theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ thì cần chú ý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ hoặc của người chồng trong việc chia tài sản chung khi ly hôn.

Nghiêm cấm phong tục, tập quán đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mấtnăng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cho một bên trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và phải tuân theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Đối với các dân tộc theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, cần bảo vệ quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người vợ hoặc người chồng sau khi ly hôn.

-----------------------------------------------

Phụ lục A

DANH MỤC PHONG TỤC, TẬP QUÁN TỐT ĐẸP

ĐƯỢC KHUYẾN KHÍCH PHÁT HUY

1. Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng - hình thái hôn nhân cơ bản của hầu hết cácdân tộc được pháp luật bảo vệ và khuyến khích phát huy.

2. Nam, nữ tự do tìm hiểu, tự do lựa chọn người bạn đời.

3. Sau khi kết hôn, tuỳ theo sự sắp xếp, thoả thuận giữa hai bên gia đình, vợ,chồng có thể cư trú ở nhà vợ hoặc ở nhà chồng (tục đổi sữa mẹ).

4. Cha, mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con nên người, có trách nhiệm bồithường thiệt hại do con gây ra.

5. Con có nghĩa vụ nghe lời, phụng dưỡng ông, bà, cha, mẹ khi về già. Trong giađình và xã hội, sinh hoạt có tôn ty, trật tự (có trên có dưới), các con đượcđối xử bình đẳng như nhau, không phân biệt đối xử giữa con gái và con trai,giữa con đẻ và con nuôi.

6. Phong tục cho phép được nhận người khác làm con nuôi hoặc làm con nuôi ngườikhác mà không phân biệt họ hàng, dân tộc. Người nhận nuôi con nuôi phải là ngườicó vợ hoặc có chồng. Người được nhận làm con nuôi phải là trẻ em không có nơi nươngtựa và không tự nuôi sống được bản thân.

7. Phong tục, tập quán  trẻ em mồ côi cha, mẹ làm con nuôi, chăm sóc con nuôi, coi con nuôi như con đẻ, con nuôi và con đẻ coi nhau như anh, em ruột thịt, con nuôi được hưởng các quyền như con đẻ.

8.Phong tục, tập quán chấp nhận hôn nhân giữa người thuộc dân tộc mình với người thuộc dân tộc khác.

9.Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc nuôi dạy con, có sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Các bậc cha, mẹ dạy dỗ, chỉ bảo con bằng những lời nói dịu dàng, giáo dục con tinh thần lao động cần cù, tạo cho con có ý thức lao động và tự lập. Người phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không có sự cách biệt.

10.Quan hệ hôn nhân và gia đình bền vững.

-----------------------------------

Phụ lục B

DANH MỤC PHONG TỤC, TẬP QUÁN LẠC HẬU BỊ NGHIÊM CẤM ÁP DỤNG

HOẶC CẦN VẬN ĐỘNG XOÁ BỎ

I- Các phong tục, tập quán lạc hậu cần vận động xoá bỏ

1. Kết hôn trước tuổi quy định (tảo hôn).

2.Việc đăng ký kết hôn không do UBND cấp xã thực hiện.

3. Cưỡng ép kết hôn do xem "lá số" và do mê tín, dị đoan; cản trở hônnhân do khác dân tộc và tôn giáo.

4. Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên.

5. Nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ, thì sau khi kết hôn, người conrể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ.

6. Quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, không bảo đảm quyền bình đẳnggiữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái.

a) Chế độ phụ hệ:

Khi ly hôn, nếu do người vợ yêu cầu ly hôn, thì nhà gái phải trả lại nhà trai toànbộ đồ sính lễ và những phí tổn khác; nếu do người chồng yêu cầu ly hôn, thì nhà gái vẫn phải trả lại nhà trai một nửa đồ sính lễ. Sau khi ly hôn, nếu người phụ nữ kết hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì. Sau khi ly hôn, con phải theo bố.

Khi người chồng chết, người vợ goá không có quyền hưởng phần di sản của người chồng quá cố để lại. Nếu người vợ goá tái hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì.

Khi người cha chết, chỉ các con trai có quyền còn các con gái không có quyền hưởngphần di sản của người cha quá cố để lại.

b) Chế độ mẫu hệ:

Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ.

Khi người vợ chết, người chồng goá không có quyền hưởng phần di sản của người vợ quá cố để lại và không được mang tài sản riêng của mình về nhà.

Khi người mẹ chết, chỉ các con gái có quyền còn các con trai không có quyền hưởngphần di sản của người mẹ quá cố để lại.

Sau khi ở rể, người con rể bị "từ hôn" hoặc sau khi ăn hỏi, nhận đồ sính lễ, người con trai bị "từ hôn" thì không được bù trả lại.

7. Không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo.

II- Các phong tục, tập quán lạc hậu bị nghiêm cấm áp dụng

1. Chế hộ hôn nhân đa thê.

2. Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có liênquan dòng họ trong phạm vi ba đời.

3. Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ.

4. Thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn,trâu, bò, chiêng ché... để dẫn cưới).

5. Phong tục "nối dây": Khi người chồng chết, người vợ goá bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố (Levirat); khi người vợ chết, người chồng goá bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của vợ quácố (Sororat).

6. Bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông goá vợ, nếu kết hôn với người khác, thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ.

7. Đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn.
 

Cẩm nang pháp luật Ecolaw là tài sản trí tuệ của công ty luật hợp danh Ecolaw. Có ý nghĩa và chỉ nên sử dụng như tài liệu tham khảo. Công ty luật hợp danh Ecolaw không chịu trách nhiệm trong trường hợp quí vị sử dụng vào mục đích khác.

Quí vị có thể click vào “DANH MỤC CẨM NANG PHÁP LUẬT ECOLAW” để tìm đọc nội dung mà mình quan tâm.

Lưu ý : bài viết trên thuộc lĩnh vực : Thủ tục Hành chính - Pháp lý

---------------------------------------------------------

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH ECOLAW - ĐỊA CHỈ TIN CẬY CỦA MỌI NGƯỜI

843 Lê Hồng Phong, P.12, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
Tel : (08) 3862 2278 – email: ecolaw@ecolaw.vn – website: ecolaw.vn