Luật sư “chia sẻ" về những khó khăn trong thủ tục khởi kiện

(Haimat.vn) – Công ty luật hợp danh Ecolaw vừa nhận được email của một đồng nghiệp, “chia sẻ” về những khó khăn trong hoạt động nghề nghiệp và bày tỏ mối quan ngại về những qui định theo kiểu gây khó khăn cho người dân và luật sư.

Nguyên văn email như sau:

Tôi là M. Th., một luật sư trẻ mới vào nghề. Tôi vừa đọc bài viết

http://www.haimat.vn/article/o-sai-gon-kho-long-kien-duoc-bao-dan-tri

trên website của haimat.vn. Tôi chia sẻ với những khó khăn mà các anh gặp phải khi giao dịch với cơ quan Tòa án.

Ngay tôi đây khởi kiện vụ án tại một tòa án ở Hà Nội, gửi hồ sơ khởi kiện các đây gần 02 tháng mà chưa được thông báo để nộp tạm ứng án phí. Cả tuần họ chỉ tiếp dân vào ngày thứ 5, lên gặp thì họ đùn đẩy gặp người nọ người kia, rồi người cần gặp lại đi vắng, bức xúc không chịu nổi.

Viết đơn khiếu nại gửi trực tiếp thì người nhận đơn gây khó dễ, tỏ thái độ hách dịch, bảo cứ từ từ, làm gì mà căng thế?...Tuy nhiên cái đó là tình trạng chung ở cơ quan Nhà nước, kêu mãi rồi.

Sở dĩ tôi viết mail này chia sẻ là vì tôi cũng gặp phải tình huống tương tự như công ty Ecolaw và đang rất thắc mắc. Đó là tòa án yêu cầu cung cấp chứng minh tư cách pháp lý của người bị kiện (CMTND hoặc sổ hộ khẩu) để chứng minh bị đơn cư trú trên địa bàn tòa án có trụ sở (Luật không hề quy định vấn đề này). Nhưng may mà tôi có giữ vì khi ký hợp đồng tôi có giữ một số giấy tờ của bị đơn. Nhưng giả sử nếu hai bên quen thân, cho nhau vay tiền thì ai giữ giấy tờ đó làm gì? Tòa án bắt đi thu thập CMTND và sổ hộ khẩu của họ khác nào đánh đố thật.

Tuy nhiên tôi tìm hiểu tại website của TAND TP. Hà Nội thì đúng là toàn TP có hướng dẫn thật, nên tòa cấp dưới họ cũng chỉ làm theo chỉ đạo thôi. Tôi không rõ các anh hoạt động trong đó thực tế thế nào, nhưng website của TAND TPHCM cũng hướng dẫn như thế đấy, không riêng gì ở Hà Nội đâu. Tức là hồ sơ khởi kiện phải có đầy đủ giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của tất cả các đương sự (kể cả người liên quan), các anh cứ vào đây xem là rõ

http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/PoliticalGuide.asp?ID=72.

Tôi không rõ Tòa án tối cao có văn bản nào hướng dẫn như vậy không mà cả 02 tòa án của 02 thành phố lớn đều yêu cầu như vậy.

Vài lời chia sẻ. Trân trọng!

-----------------------------------

Ý kiến “phản hồi” của Công ty luật hợp danh Ecolaw

Qui định như vậy là trái luật, gây khó khăn và hạn chế quyền khởi kiện của công dân

Chúng tôi trước sau khẳng định những yêu cầu theo kiểu buộc phía nguyên đơn phải cung cấp những tài liệu, giấy tờ thuần túy hành chính, của người khác - mà họ không thể có và cũng không phải là chứng cứ liên quan đến nội dung khởi kiện và hoàn toàn có thể yêu cầu phía bị đơn cung cấp – là hết sức vô lý, thậm chí trái pháp luật. Cho dù Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn như vậy thì cũng là vô lý, trái luật.

Những thứ “thủ tục con” như trên hiện nay đang rất phổ biến không chỉ trong lĩnh vực tư pháp mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. Và đang làm cho người dân hết sức mệt mỏi, bức xúc. Chính đây là những cản ngại không đáng có, làm trì trệ và kéo dài quá trình giải quyết tranh chấp, thực thi pháp luật và qua đó “góp phần” hạn chế việc bảo vệ công lý, công bằng xã hội.

Luật sư Trần Hồng Phong, giám đốc Ecolaw

------------------------------------------------

Qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự:

Điều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.
2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;
i) Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
k) Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án;
l) Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

Điều 165. Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Điều 166. Gửi đơn khởi kiện đến Toà án

1. Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
a) Nộp trực tiếp tại Toà án;
b) Gửi đến Toà án qua bưu điện.
2. Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

Điều 167. Thủ tục nhận đơn khởi kiện

Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:
1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;
2. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;
3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Điều 168. Trả lại đơn khởi kiện

1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
a) Thời hiệu khởi kiện đã hết;
b) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;
d) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;
đ) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện;
e) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
2. Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện.

Điều 169. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện

1. Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật này thì Toà án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Toà án ấn định, nhưng không quá ba mươi ngày; trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể gia hạn, nhưng không quá mười lăm ngày.
2. Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật này thì Toà án tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.

Điều 170. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.